VIỆT NAM
Sơ lược về Xã Hội Dân Sự Tòan Cầu
(The Global Civil Society)
LS Đòan Thanh Liêm
Bình thường, ta có xã hội dân sự trong một quốc gia, cũng như có một thị trường kinh tế trong khuôn khổ sinh họat của quốc gia đó. Nhưng ngày nay với tình trạng tòan cầu hóa mỗi ngày một phổ biến cùng khắp mọi nơi, mọi lãnh vực, thì ta cũng có thể nói rằng : Có một thứ “Xã hội Dân sự Tòan cầu”(The Global Civil Society). Bạn đọc cứ mở internet, vào Google hay Yahoo, thì đều có thể kiếm được cả hang chục triệu items trong mục về XHDS Tòan cầu, để mà mặc sức tham khảo.
Mặc dù khái niệm về XHDS mới chỉ được phổ biến rộng rãi trong vòng mấy chục năm gần đây vào cuối thế kỷ XX, nhưng vào đầu thế kỷ XXI hiện nay thì hằng ngày, hằng giờ ta đều nghe hay đọc các bài trình bày thật phong phú về các khía cạnh sinh họat rất đa dạng của XHDS.Trong vòng mấy năm gần đây, người viết bài này đã có dịp góp phần trao đổi về nhiều khía cạnh của XHDS, nay tôi xin được bàn đến cái phạm vi họat động của các tổ chức thuộc XHDS đang được mỗi ngày một dàn trải rộng lớn thêm mãi ra trên khắp thế giới.
Cụ thể, ta có thể coi trường hợp của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế (IRC =International Red Cross) có trụ sở chính tại Geneva Thụy sĩ. Đó là một tổ chức được thiết lập đã trên 150 năm và có phạm vi họat động khắp thế giới, đặc biệt lại phối hợp nhịp nhàng với các Hội Hồng Thập Tự của từng quốc gia sở tại. Cũng vậy Hội Hướng Đạo được tổ chức tại từng quốc gia và có một văn phòng liên lạc và phối hợp quốc tế có trụ sở chính tại London Anh quốc, thì đó là một phong trào hướng dẫn sinh họat lành mạnh cho giới thanh thiếu niên cùng khắp thế giới theo như lý tưởng của vị sáng lập là Baden Powel (BP) người nước Anh. Hay như các tổ chức nhân đạo đồ sộ với tài sản hàng chục tỷ mỹ kim như Ford, Carnegie, Rockefeller, Bill Gates Foundation, thì đều có phạm vi hoạt động dàn trải ra trên khắp thế giới.
Cũng vậy, các tổ chức bênh vực nhân quyền như Ân xá Quốc tế (Amnesty International = AI), Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch = HRW), Ký giả Không Biên giới (Reporters Sans Frontieres = RSF) v.v… thì cũng hoạt động trên phạm vi tòan cầu.
Các tổ chức tôn giáo cũng vậy, họ phần đông có các nhà dòng thừa sai đi tổ chức họat động khắp thế giới, không những để truyền đạo, mà còn điều hành nhiều cơ sở y tế xã hội, cũng như về văn hóa giáo dục nữa.
Không bó buộc phải là một tổ chức quy mô lớn lao với phương tiện tài chánh dồi dào thì mới họat động khắp thế giới được. Như trường hợp của phong trào Green Peace (Bảo vệ Môi sinh), tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International = TI) v.v…, thì họ đều là các tổ chức rất nhỏ nhoi với ngân sách điều hành rất eo hẹp, nhưng lại họat động khá hiệu quả với những vấn đề có tầm vóc quan trọng tòan cầu.
A/ Tổng quát.
Để bạn đọc có thể nhận định vấn đề một cách dễ dàng đơn giản hơn, tôi xin tóm gọn trong mấy ý chính như sau :
1/ Về phương diện tổ chức và điều hành, XHDS không phải là một thực thể pháp lý duy nhất với quy mô chặt chẽ như tổ chức chánh quyền Nhà nước hay như một đơn vị công ty kinh doanh trong khu vực Thị trường kinh tế (Marketplace). Mà đó là một tập thể tuy rất rộng lớn bao gồm tất cả mọi tổ chức phi-chánh phủ, bất vụ lợi (NGO/NPO = non-governmental/non-profit organizations) và các nhóm nhỏ (small groups), nhưng lại không có một đầu não để kết hợp các hành động rất phức tạp, đa dạng.
2/ Và đối với Nhà nước, thì XHDS lại đóng hai vai trò trọng yếu khác nhau mà lại bổ túc lẫn nhau : đó là vai trò làm Đối tác (Counterpart) và vai trò làm Đối trọng (Counterbalance). Tức là vừa hợp tác với Nhà nước như trường hợp của các Hội Hồng Thập Tự, Hướng Đạo, Hội Nhân đạo Từ thiện…, mà cũng vừa “đối kháng, phê phán” Nhà nước như Ân xá Quốc Tế, HRW, RSF, tổ chức ACLU (American Civil Liberties Union), Green Peace v.v…
3/ Đặc biệt trong mối liên hệ với tổ chức Liên Hiệp Quốc, thì các tổ chức thuộc XHDS lại có sự trao đổi hợp tác và được sự yểm trợ rất mạnh mẽ từ phía các cơ quan chuyên môn của tổ chức chính trị tòan cầu này. Một trong những lý do chính yếu là các NGO tầm vóc lớn với ngân sách dồi dào đã hưởng ứng mạnh mẽ với các chương trình của LHQ, trong khi các chánh phủ của các quốc gia thành viên thì lại chẳng tham gia đóng góp được bao nhiêu cho các họat động của chính LHQ.
4/ Vai trò của các Đại học (Academia) và của các Tổ chức Tôn giáo (Religious Congregations) càng ngày càng năng động, sáng tạo, phấn khởi và hữu hiệu tại khắp nơi trên thế giới. Đó là nhờ ở sự thông cảm và hợp tác chặt chẽ giữa giới hàn lâm và giới tôn giáo trên phạm vi tòan cầu. Lại nữa các tổ chức tôn giáo rất dễ vận động quần chúng tham gia đóng góp vào các lọai họat động khởi xuất từ một niềm tin tôn giáo (Faith-based Social Action). Trong khi đó thì Đại học lại đóng góp nhiều sáng kiến cụ thể thiết thực cho các họat động có tầm vóc lớn lao tòan cầu (Global Thinking/Vision).
5/ Như đã có dịp trình bày trước đây, ta có thể chấp nhận một định nghĩa đơn giản về XHDS như sau : Đó là một khu vực thứ ba ( the 3rd sector) hợp thành “Không gian Xã hội” mà con người sinh sống với nhau. Ta có thể viết dưới dạng một công thức như sau :
Không gian xã hội = Nhà nước + Thị trường kinh tế + Xã hội Dân sự.
Lấy con số thống kê của Mỹ, ta có trên 1 triệu các tổ chức vô vụ lợi và trên 3 triệu nhóm nhỏ (small groups), tất cả đều họat động tự nguyện với mục tiêu phục vụ công ích. Trong các tổ chức này, thì có đến 2/3 là phát xuất từ các tôn giáo. Ta cần ghi nhận tinh thần hy sinh phục vụ rất là cao trong số các nhân viên tình nguyện nơi các tổ chức thuộc khu vực XHDS này.
B/ Sự lớn mạnh của Xã Hội Dân Sự
Theo nghiên cứu mới nhất của Đại học Johns Hopkins ở Maryland nước Mỹ, trong Dự án khảo sát đối chiếu về khu vực bất vụ lợi ( Johns Hopkins Comparative Non-Profit Sector Project), thì vào đầu năm 2000, tổng số chi phí của khu vực này trong 35 quốc gia được khảo sát đã lên tới 1,300 tỷ mỹ kim (1.3 trillion), tức là chiếm đến trên 5% GDP của các nước đó. Với con số này, XHDS có thể được xếp vào hàng thứ 7 trong số các nền kinh tế lớn bậc nhất của thế giới ngày nay (7th largest Economy).
Thống kê trong một tài liệu khác còn cho ta biết là : Mỗi năm người Mỹ đã chi ra 250 tỷ mỹ kim riêng cho lãnh vực từ thiện của tư nhân (private charity). Và về con số những tổ chức phi chánh phủ riêng tại Ấn độ, thì có đến trên 1 triệu NGO, ở Brazil là 210,000, Ai cập 17,500, Thái lan 15,000.
Có tác giả còn ghi : Thế kỷ XXI là thế kỷ của bất vụ lợi (the Century of Non-Profit). Và phong trào lớn mạnh của XHDS hịện nay ở đầu thế kỷ XXI, thì có thể so sánh với phong trào phát triển của các quốc gia (the rise of nation-states) trên thế giới vào cuối thế kỷ XIX qua đầu thế kỷ XX.
Về phương diện viện trợ quốc tế, thì hiện nay tổng số tiền và vật dụng của hang mấy chục vạn các tổ chức tư nhân chi ra, đã vượt xa tổng số viện trợ của các chánh phủ các nước giàu có cho các nước thế giới thứ ba.
Phân tích lý do của sự đột phá trong phong trào xã hội mới mẻ này (the New Social Movement), các nhà nghiên cứu xã hội học thường đưa ra mấy nguyên nhân như sau :
a) Trước hết về khía cạnh tài nguyên, các chánh phủ ở Tây Âu kể cả Mỹ, vào thập niên 1970 trở đi, thì không còn đủ ngân sách dồi dào để trang trải mọi thứ dịch vụ xã hội cho người dân như trước nữa. Một phần cũng tại giá dầu hỏa từ Trung Đông đã tăng lên quá nhanh, khiến cho nguồn lợi tức thu nhập cho ngân sách giảm bớt hẳn đi. Do vậy, mà nhà nước phải để cho các tổ chức tư nhân đứng ra đảm trách thay thế vào vai trò mà trước đây vẫn do cơ quan nhà nước phụ trách. Mặt khác, các nước giàu có lên nhờ dàu hỏa thì hầu hết là theo Hồi giáo, nên họ cũng góp phần chi viện nhiều cho các đồng đạo của mình ở những nước nghèo hơn như Bangladesh, Indonesia và cả các nước cộng hòa miền Trung Á thuộc Liên Xô cũ nữa.
b) Thứ hai là ngay trong thời kỳ chiến tranh lạnh, quần chúng ở các nước Âu Mỹ đã kết hợp thành phong trào chống chiến tranh hạt nhân, chống nạn phá họai môi sinh, đòi chánh quyền phải bảo tồn lọai vật hiếm quý… Đồng thời phong trào bảo vệ nhân quyền cũng phát triển rộng rãi cùng khắp. Đây là sự kết hợp giữa các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trẻ trong một quốc gia với nhau, cũng như mở rộng tình liên đới quốc tế trước những vấn đề sinh tử của tòan thể nhân lọai. Dĩ nhiên là nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lãnh vực truyền thông, mà sự liên kết trao đổi và hợp tác trên phạm vi tòan cầu đã được thể hiện một cách rất sôi nổi, mau lẹ, liên tục và phổ biến.
c) Thứ ba là giữa thời kỳ thóai trào của chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và nhất là tại Đông Âu, thì ý thức tranh đấu về nhân phẩm và nhân quyền lại càng dâng cao trong đông đảo đa số quần chúng vốn đã quá bất mãn, chán chường với chủ trương độc tài tòan trị được thiết lập từ thời Stalin trên 40 năm trước ở Đông Âu. Và kể từ khi bức tường Bá linh xụp đổ năm 1989, thì các quốc gia cựu cộng sản ở Đông Âu cũng như ở Nga đã mau chóng tiến hành công cuộc phục hồi xã hội dân sự để dành lại cho người dân cái quyền tự mình làm chủ vận mệnh, mưu cầu hạnh phúc cho bản thân và gia đình. Cái quá trình chuyển tiếp dân chủ này (Democratic transition) hiện đang diễn ra thật ngọan mục tại tất cả các quốc gia cựu cộng sản đó, và ta thấy rõ ràng đây là một quá trình không thể nào mà có thể đảo ngược lại được nữa (Irreversible process).
d) Thứ tư là về phương diện nhân sự, các tổ chức thuộc khu vực XHDS đã và đang còn thu hút được nhiều tài năng trí tuệ xuất sắc. Nhờ vậy mà họat động của họ có năng xuất và hiệu quả rất cao. Một phần do đầu óc năng động sáng tạo, một phần do sự nhiệt tâm hy sinh hết mình cho lý tưởng phục vụ nhân quần xã hội.Nơi đây, ta thấy rõ nét sự kết hợp của giới trí thức hàn lâm (Academia) với giới Tôn giáo (Churches) trong một mục tiêu chung là cải thiện xã hội bằng phương thức ôn hòa, bất bạo động. Bằng hành động thiết thực, cụ thể, dù nhỏ bé đến đâu (Act locally), nhưng nhờ có sự kiên trì nhẫn nại mà lần hồi cũng gặt hái được những thành quả tốt đẹp chắc chắn. Đúng như chủ trương của bậc sư phụ Karl Popper đã kêu gọi : “Phải cải thiện xã hội từng mảnh một” (Piecemeal Social Engineering). Mà gần đây người môn đệ là George Soros, một nhà tài chánh khét tiếng, đã thành lập “Open Society Institute” (OSI) để họat đông chính yếu tại Đông Âu và tại Nga.Đáng chú ý là việc thành lập được trường Đại học Trung Âu tại Budapest Hungary (the Central European University) vốn là quê hương bản quán của G Soros.
Tóm tắt lại trong thời đại tòan cầu hóa ngày nay, Xã hội Dân sự mỗi ngày một phát triển và trưởng thành, cả về mặt nhận thức của số đông đảo quần chúng, đặc biệt là của giới trẻ, cũng như cả trong hành động thiết thực, cụ thể cùng khắp mọi nơi mọi chốn. Đó là cả một phong trào quần chúng sôi nổi đang nối vòng tay lớn nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, nhân ái hơn, an hòa hơn. Bài viết ngắn ngủi này chỉ có thể ghi sơ lược một số nét đại cương về phong trào xã hội đang dâng cao trên khắp thế giới ngày nay trong đầu thế kỷ XXI vắn tắt là như vậy.
Trong một bài viết sau, tác giả sẽ trình bày chi tiết hơn trường hợp điển hình của một số quốc gia thuộc khu vực thế giới thứ ba ở Á châu, Phi châu và châu Mỹ La tinh, cũng như của một vài nước ở Đông Âu mà mới vừa thóat được ách độc tài cộng sản trong vài chục năm nay.
Xin hẹn bạn đọc đón coi nhé.
California Tháng Bảy 2009
Đòan Thanh Liêm
Small is beautiful
LS Đòan Thanh Liêm
“Small is beautiful”, đó là nhan đề của một cuốn sách xuất bản năm 1973. Tác giả là một kinh tế gia đã từng làm việc lâu năm tại Cơ quan quản lý về ngành than đá của nước Anh (National Coal Board NCB), tên là E F Schumacher. Ngay khi ra mắt công chúng, cuốn sách đã gây được tiếng vang lớn khắp thế giới, và cho đến nay sau trên 30 năm thì đã lưu hành được đến trên một triệu đơn vị, đó là chưa kể các ấn bản được dich ra nhiều thứ tiếng khác nữa.
Vào năm 1973 đó, tôi chỉ mới được đọc có một bài giới thiệu về cuốn sách này, trong đó có câu nguyên văn như sau khiến tôi nhớ mãi : “Small is beautiful, Simple is beautiful, Non-violent is beautiful too”. Mãi đến năm 1979-80, thì cụ Nguyễn Hiến Lê mới được ngưới cháu làm ở Liên Hiệp Quốc tại Geneva về thăm và mang cho bản dịch tiếng Pháp mà vẫn để nguyên nhan đề bằng tiếng Anh theo như nguyên tác, chứ lại không dịch ra tiếng Pháp : “Small is beautiful”. Cụ Nguyễn xem xong và cho tôi mượn đọc cuốn sách thật là hiếm mà có được ở Việt nam vào cái thời gian đó. Không những tôi đã say mê đọc, mà còn chuyển cho một vài người bạn thân thiết khác cùng đọc nữa. Rồi tôi lại có dịp đến trao đổi với cụ Nguyễn về nội dung cuốn sách này; nhờ vậy mà tôi vỡ lẽ ra được nhiều điều mới lạ mà tác giả đã gợi ra cho người đọc nào có sự chú tâm và đồng cảm với quan điểm của mình.
Đáng chú ý nhất là trong cuốn sách có một chương dài chừng 10 trang nhan đề là “Buddhist Economics” (Kinh tế học Phật giáo). Tác giả Schumacher viết rất gọn gàng khúc chiết, diễn giải một cái nhìn rất khác lạ đối với công chúng ở các nước Âu Mỹ.
Từ mấy tháng nay trước sự hỏang lọan cực kỳ rối ren đen tối phát sinh từ cuộc khủng hỏang kinh tế tài chánh của nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới, tôi đã tìm đọc lại cuốn sách này nơi ấn bản năm 1999 kỷ niệm 25 năm ngày xuất bản đầu tiên năm 1973 như đã ghi ở trên. Và với thêm nhiều tài liệu được cập nhật hóa liên quan đến tác giả và tác phẩm, tôi bèn nảy ra ý nghĩ là phải trình bày với chi tiết thật sáng sủa, mà gọn gàng về tư tưởng của tác giả Schumacher với các bạn đọc người Việt nam chúng ta.
Để cho vấn đề trình bày được thêm mạch lạc sáng tỏ, người viết xin chia ra thành 3 phần được diễn trình trong 3 bài như sau :
Bài 1/ Thân thế và sự nghiệp tác giả E F Schumacher
Bài 2/ Giới thiệu cuốn sách “Small is beautiful”
Bài 3/ Kinh tế học Phật giáo (dịch nguyên văn từ chương “Buddhist Economics”)
Nhân tiện người viết cũng xin ghi lời tưởng nhớ với niềm ngưỡng mộ chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đối với cụ Nguyễn Hiến Lê là một học giả đã góp phần rất lớn lao trong công trình xây dựng văn hóa nước nhà, dưới chế độ tự do ở miền Nam Việt nam hồi trước năm 1975. Cụ đã từ trần vào năm 1984 ở Saigon; và năm 2009 này là kỷ niệm 25 năm kể từ ngày Cụ từ giã chúng ta. (xin bấm vào đây để đọc tiếp)
Thổ Ngữ Của Tiếng Huế
Phan Thịnh
Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản tê mô răng rứa như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều . Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu .
Xin được đơn cử một câu rất Huế, một tâm sự kín đáo giữa hai o đang tuổi lấy chồng: "Tau noái với mi ri nì, en còn ở dôn, rứa mà bữa tê tề, en chộ tau phơi ló ngoài cươi, en kiêu tau vô, bồn tau lên chờn, cái ba . . . en đẩn . Mi quai chướng khôn ?" Sở dĩ tâm sự kín đáo vì đây là chuyện riêng của hai người, nói bằng thổ ngữ, nhưng ý nghĩa thì như vầy: "Tao nói với mày như vầy, ảnh còn ở rể, vậy mà hôm kia kìa, tao đang phơi lúa ngoài sân, ảnh kêu tao vào, bồng tao lên giường, rồi ảnh . . . Mày coi có kỳ không ?" .
Chữ đẩn, ngoài ý nghĩa một trong bốn cái nhất của đời người trên còn có nghĩa như ăn: "Đẩn cho bưa rồi đi nghể" . Ăn cho no rồi đi ngắm gái .
Đẩn cũng có nghĩa là đánh đòn: "Đẩn cho hắn một chặp!" (Đục cho hắn một hồi!) . Chữ đẩn còn được phong dao Huế ghi lại:
Được mùa thì chê cơm hẩm
Mất mùa thì đẩn cơm thiu
Xin được thêm một câu ngăn ngắn gần như rặt thổ ngữ của Huế mà, nếu không có . . . thông dịch viên gốc Huế hoặc Huế rặt, e rằng khó mà . . đã thông cho được:
"Thưa cụ mự, bọ tui vô rú rút mây về đươn trẹt, bọ tui chộ con cọt, rứa mà nỏ biết ra răng, con cọt lủi, lủi năng lắm, bọ tui mờng rứa thê ! Chừ mạ tui cúng con gà, cụ mự qua chút chò bui ." (Thưa cậu mợ, bố con vào rừng rút mây về đan rá (hoặc nia), bố con thấy con cọp, vậy mà chẳng biết sao; con cọp chạy trốn, chạy lẹ lắm; bố con mừng quá . Giờ mẹ con đang cúng con gà, cậu mợ qua chút xíu cho vui) Khó hiểu chưa ? !
Thổ ngữ ở Huế thì nhiều lắm và cũng lạ lắm, và vì tiêu đề của bài này là lan man về những thổ ngữ đó, nên xin được nhẩn nha tìm lại chút ít những gì đã mất và ôn lại những gì đang còn xài . Vì trang báo có hạn, không thể giải thích từng chữ một, nên trong bài này, xin được ghép thổ ngữ thành từng câu, từng nhóm thổ ngữ, vừa đỡ nhàm chán lại ra câu ra kéo, có đầu có đuôi hơn:
"Đồ cái mặt trỏm lơ mà đòi rượn đực!" (Thứ mặt mày hốc hác mà đòi hóng trai) Độc chưa ? O mô mà lỡ mang cái nhãn không cầu chứng tại tòa này chắc phải ở giá hoặc phải chọn kiếp . . . tha hương may ra mới có được tấm chồng . Chữ rượn gần đồng nghĩa với câu con ngựa Thượng Tứ, câu này cũng độc không kém . Thượng Tứ là tên gọi của cửa Đông Nam, bên trong cửa này có Viện Thượng Kỵ gồm hai vệ Khinh kỵ vệ và Phi kỵ vệ chuyên nuôi dạy ngựa cho triều đình Huế . Vì thế gọi ngựa Thượng Tứ có nghĩa bóng bảy xa xôi rằng con đó nó ngựa lắm, nó đĩ lắm, nhưng thâm thuý hơn nhiều
"Mệ cứ thộn ló vô lu, còn lưa, tui này lại !" (Bà cứ dồn lúa vô khạp (cho đầy), còn dư ra, con mua lại) . Chữ lưa cũng còn có nghĩa là còn đó như trong hai câu trong bài ca dao Huế:
(Xin bấm vào đây để đọc tiếp)
________
Ghi chú ngắn về xã hội dân sự
Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân?
Đổi trắng thay đen
Tuổi già khổ lắm, phải không ?
Tiến bộ khoa học ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống cùa chúng ta trong tương lai gần
Tiếng Việt Saigon, cái chết của một ngôn ngữ

Copyright this business. All rights reserved.